Quay Lại Law Hub
Hướng dẫn & Kiến thức

Bản quyền âm nhạc sau khi nhạc sĩ/ca sĩ qua đời thuộc về ai?

Legal Team14 phút đọc|

Quyền thừa kế đối với Quyền tác giả và Quyền liên quan khi nhạc sĩ/ca sĩ qua đời theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ mang tính chất cung cấp thông tin chung và không thay thế cho lời khuyên pháp lý trong các tình huống cụ thể.

Tóm tắt

Khi nhạc sĩ qua đời, Quyền tác giả đối với Tác phẩm âm nhạc không biến mất và cũng không ngay lập tức thuộc về công chúng mà chỉ trở thành tác phẩm thuộc về công chúng sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ theo luật định. Quyền tài sản và quyền công bố Tác phẩm âm nhạc được chuyển cho người thừa kế. Tuy nhiên, các Quyền nhân thân còn lại không được thừa kế và tiếp tục được bảo hộ vô thời hạn. Quyền liên quan đối với Cuộc biểu diễn và Bản ghi âm, ghi hình cũng sẽ được chuyển cho người thừa kế khi người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình qua đời theo phân tích cụ thể bên dưới.

Bất kỳ cá nhân/doanh nghiệp nào có nhu cầu sử dụng ca khúc của một nhạc sĩ/ca sĩ đã qua đời cần thật sự cẩn trọng khi xác định sai người có thẩm quyền cấp phép. Việc bỏ sót một đồng thừa kế hay một lớp quyền có thể khiến hợp đồng cấp phép không có giá trị đối với những chủ thể quyền còn lại và làm phát sinh trách nhiệm bồi thường.

Bài viết này phân tích cấu trúc Quyền tác giả và Quyền liên quan sau khi chủ thể quyền qua đời, và cách người sử dụng nhạc xác định đúng chủ thể cần xin phép.

Quyền nào được thừa kế, quyền nào không?

QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC

Quyền tác giả gồm hai nhánh với "số phận pháp lý" khác nhau sau khi tác giả qua đời. Theo Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này [1].

Loại quyềnNội dungCó được thừa kế?Thời hạn bảo hộ
Quyền nhân thân (khoản 1, 2, 4 Điều 19)Đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả [2]Không — gắn liền vĩnh viễn với tác giảVô thời hạn [4]
Quyền nhân thân (khoản 3 Điều 19)Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm [2]Có — chuyển cho người thừa kế [1]Suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả qua đời [5]. Cụ thể, thời hạn bảo hộ chấm dứt vào 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm thứ năm mươi sau năm tác giả qua đời.
Quyền tài sản (Điều 20)Làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn; sao chép; phân phối; phát sóng, truyền đạt đến công chúng; [3]Có — chuyển cho người thừa kế [1]Suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả qua đời [5]. Cụ thể, thời hạn bảo hộ chấm dứt vào 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm thứ năm mươi sau năm tác giả qua đời.

Như vậy, người thừa kế trở thành chủ sở hữu Quyền tác giả đối với Quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm — nhưng không bao giờ trở thành "tác giả" và không nhận được các quyền nhân thân gắn liền với tư cách tác giả, ngoại trừ quyền công bố nêu trên. Người thừa kế sẽ có quyền và nghĩa vụ yêu cầu cơ quan nhà nước xử lý hành vi xâm phạm đối với các quyền mà người thừa kế được hưởng theo quy định pháp luật.

Xem thêm: Ai Sở Hữu Bản Quyền Âm Nhạc?

QUYỀN LIÊN QUAN ĐỐI VỚI CUỘC BIỂU DIỄN VÀ BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH

Quyền liên quan gồm quyền đối với Cuộc biểu diễn và Bản ghi âm, ghi hình. Khi chủ thể quyền qua đời, người thừa kế có thể trở thành chủ sở hữu đối với các quyền tài sản tương ứng trong phạm vi di sản được thừa kế.

Loại quyềnNội dungCó được thừa kế?Thời hạn bảo hộ
Quyền nhân thân của người biểu diễn (Điều 29)Được giới thiệu tên khi biểu diễn, phát hành bản ghi âm/ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn; bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn. [6]Không chuyển giao theo cơ chế thừa kế quyền tài sản. Đây là quyền nhân thân gắn với người biểu diễn.50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình [9]. Cụ thể, thời hạn bảo hộ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt.
Quyền tài sản của người biểu diễn (Điều 29)Quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn, bao gồm định hình, sao chép, phân phối, phát sóng, truyền đạt đến công chúng và các quyền khác theo luật. [7]Có — đối với quyền tài sản của người biểu diễn. Người thừa kế trở thành chủ sở hữu các quyền tương ứng.50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình [9]. Cụ thể, thời hạn bảo hộ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt.
Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình (Điều 30)Quyền sao chép; nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình. [8]Có — người thừa kế trở thành chủ sở hữu các quyền tương ứng của nhà sản xuất.50 năm tính từ năm tiếp theo năm công bố; nếu chưa công bố thì 50 năm từ năm tiếp theo năm định hình [10]. Cụ thể, thời hạn bảo hộ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt.

Như vậy, phần "quyền tài sản" đối với Cuộc biểu diễn và Bản ghi âm, ghi hình có thể được chuyển cho người thừa kế để tiếp tục khai thác thương mại. Tuy nhiên, việc thừa kế không làm phát sinh tư cách "Người biểu diễn" cho người thừa kế và cũng không chuyển giao các quyền nhân thân gắn với tư cách này. Dù thời hạn bảo hộ các quyền nhân thân của Người biểu diễn có giới hạn, chúng vẫn gắn với chính chủ thể đã thực hiện cuộc biểu diễn. [11]

Đồng thừa kế đối với Quyền tác giả/Quyền liên quan

Đồng thừa kế là tình huống phổ biến nhất và cũng là nguồn rủi ro lớn nhất khi khai thác nhạc của nhạc sĩ/ca sĩ đã qua đời. Khi nhạc sĩ/ca sĩ không để lại di chúc hoặc di chúc chia quyền cho nhiều người, các quyền tài sản đối với Tác phẩm âm nhạc và cả quyền khai thác thương mại đối với Cuộc biểu diễn, Bản ghi âm, ghi hình — trở thành tài sản thuộc sở hữu chung của các đồng thừa kế.

Theo quy định của pháp luật về thừa kế, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Nếu không có di chúc hợp lệ, tài sản được chia theo pháp luật cho những người thừa kế theo hàng thừa kế — hàng thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người qua đời. [12]

Cấu trúc sở hữu chung này kéo theo các hệ quả pháp lý quan trọng:

  • Cấp phép cần sự thỏa thuận của tất cả đồng chủ sở hữu, bao gồm các đồng thừa kế khi chủ sở hữu ban đầu qua đời: Trường hợp Tác phẩm, Cuộc biểu diễn, Bản ghi âm, ghi hình có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển quyền sử dụng Quyền tác giả, Quyền liên quan phải có sự thoả thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu [13].

    Trong thực tế, điều này đặc biệt quan trọng đối với Tác phẩm, Cuộc biểu diễn, Bản ghi âm, ghi hình được tạo ra bởi nhiều người hoặc được thừa kế bởi nhiều người. Trước khi ký bất kỳ hợp đồng cấp phép nào, nếu do "người thừa kế" ký trực tiếp, bên nhận cấp phép cần xác định đầy đủ các đồng thừa kế hoặc kiểm tra việc ủy quyền hoặc sự đồng ý của từng người. Nếu chỉ một người ký hợp đồng mà không có sự đồng thuận hợp lệ của những người còn lại, phạm vi quyền được cấp có thể bị tranh chấp, khiến bên nhận cấp phép đối mặt với rủi ro phải dừng khai thác hoặc phát sinh trách nhiệm với các đồng thừa kế khác.

  • Nguyên tắc áp dụng cho cả hai lớp quyền: Cần phân biệt giữa Quyền tác giả đối với Tác phẩm và Quyền liên quan đối với Cuộc biểu diễn, Bản ghi âm, ghi hình và Chương trình phát sóng. Khi một trong các đối tượng này thuộc sở hữu chung, việc xác định ai có quyền cấp phép phải được thực hiện riêng đối với từng đối tượng và từng phần quyền. Không thể mặc định rằng người có quyền đối với Tác phẩm cũng là người có quyền đối với Bản ghi âm, ghi hình, hoặc ngược lại.

    Điều này đặc biệt quan trọng trong các giao dịch liên quan đến cấp phép âm nhạc, bởi một bài hát có thể đồng thời chứa nhiều lớp quyền với các chủ thể khác nhau. Ví dụ, một ca khúc có thể có nhiều đồng tác giả, trong khi Bản ghi âm của ca khúc đó lại thuộc sở hữu của một nghệ sĩ, nhà sản xuất hoặc tổ chức khác.

    Vì vậy, bên nhận cấp phép cần xác định đúng đối tượng quyền, chủ sở hữu tương ứng và phạm vi quyền được cấp trước khi khai thác.

  • Ủy quyền cho Tổ chức quản lý tập thể quyền hoặc Đơn vị quản lý quyền tư nhân: Việc chủ sở hữu quyền qua đời không đồng nghĩa với việc quan hệ ủy quyền quản lý quyền tự động chấm dứt. Nếu trước khi qua đời, chủ sở hữu đã ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức quản lý tập thể quyền hoặc đơn vị quản lý quyền tư nhân, cần kiểm tra nội dung hợp đồng để xác định phạm vi quyền đã ủy quyền, thời hạn ủy quyền và cơ chế xử lý khi chủ thể quyền qua đời.

    Trong trường hợp "quyền tài sản" được chuyển cho nhiều người thừa kế, cần tiếp tục xác định ai là người có quyền đối với phần quyền đã được ủy quyền và liệu việc ủy quyền trước đó có tiếp tục áp dụng đối với phần quyền được thừa kế hay không. Nếu các đồng thừa kế trở thành đồng chủ sở hữu, việc tiếp tục, sửa đổi hoặc chấm dứt việc ủy quyền cần được xem xét tương ứng với cơ cấu sở hữu mới.

  • Khi đồng thừa kế tranh chấp, mọi giao dịch đều rủi ro: Khi các đồng thừa kế chưa thống nhất về quyền sở hữu hoặc phạm vi khai thác, việc một người tự mình ký hợp đồng cấp phép có thể dẫn đến tranh chấp về hiệu lực và phạm vi của giao dịch. Bên nhận cấp phép dù đã ký hợp đồng và thanh toán đầy đủ vẫn có nguy cơ bị các đồng thừa kế khác phản đối việc khai thác, yêu cầu chấm dứt sử dụng hoặc yêu cầu thanh toán, bồi thường theo quyền của họ.

    Vì vậy, không nên chỉ kiểm tra chữ ký của người đại diện hoặc người đang trực tiếp quản lý tác phẩm. Khi có dấu hiệu tranh chấp thừa kế, bên nhận cấp phép cần xác định rõ tình trạng sở hữu, sự đồng thuận của các đồng thừa kế và phạm vi quyền mà người ký thực sự có thể chuyển giao trước khi bắt đầu khai thác.

Điều gì xảy ra khi "không có" người thừa kế?

Nếu chủ sở hữu Quyền tác giả hoặc Quyền liên quan (hoặc tất cả đồng chủ sở hữu quyền) qua đời trong khi đối tượng quyền vẫn còn thời hạn bảo hộ mà không có người thừa kế, quyền đó không đương nhiên chấm dứt hay trở thành tài sản có thể tự do khai thác.

Theo Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Quyền tác giả, Quyền liên quan trong trường hợp chủ sở hữu qua đời không có người thừa kế; quy định này cũng áp dụng khi người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản. Vì vậy, việc không tìm thấy người thân hoặc không xác định được người thừa kế không đồng nghĩa với việc tác phẩm trở thành "nhạc tự do" để bất kỳ ai cũng có thể sử dụng.

Trong thực tế, nếu một doanh nghiệp muốn khai thác một bài hát thuộc trường hợp này, cần xác định cơ quan đại diện Nhà nước đang quản lý quyền và thực hiện thủ tục xin phép theo cơ chế áp dụng cho quyền thuộc Nhà nước theo quy định hướng dẫn thi hành. Chỉ khi thời hạn bảo hộ kết thúc, Tác phẩm, Bản ghi âm, ghi hình của bài hát đó mới thuộc về công chúng và có thể được sử dụng theo quy định, đồng thời vẫn phải tôn trọng các quyền nhân thân còn được pháp luật bảo hộ.

Xem thêm: Khi nào Tác phẩm âm nhạc thuộc về công chúng?

Xem thêm: Tìm hiểu về cấp phép sử dụng Tác phẩm âm nhạc và Bản ghi âm

Xem thêm: Ai cấp phép sử dụng âm nhạc?

Kết luận

Nhạc sĩ hoặc ca sĩ qua đời không đồng nghĩa với việc bản quyền đối với âm nhạc của họ chấm dứt. Quyền có thể được chuyển cho người thừa kế, tiếp tục được quản lý thông qua tổ chức hoặc đơn vị đã được ủy quyền, hoặc trong trường hợp không có người thừa kế, được Nhà nước đại diện theo quy định pháp luật.

Vì vậy, trước khi sử dụng một Tác phẩm hay Bản ghi âm của một nghệ sĩ đã qua đời, điều quan trọng không chỉ là xác định "ai là người thừa kế?", mà còn phải xác định ai đang sở hữu quyền, phạm vi quyền nào được thừa kế và ai có quyền cấp phép.

Đối với bên khai thác, việc kiểm tra đầy đủ chuỗi sở hữu và quyền đại diện trước khi ký hợp đồng là bước quan trọng để tránh một tình huống tưởng như đã được cấp phép hợp pháp nhưng sau đó lại bị các đồng thừa kế hoặc chủ thể quyền khác tranh chấp.


NỘI DUNG THAM KHẢO

[1] Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ;

[2] Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ;

[3] Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ;

[4] Khoản 1 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ;

[5] Điểm b Khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ;

[6] Khoản 2 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ;

[7] Khoản 3 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ;

[8] Khoản 1 Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ;

[9] Khoản 1 Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ;

[10] Khoản 2 Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ;

[11] Khoản 4 Điều 44 Luật Sở hữu trí tuệ;

[12] Điều 650, Điều 651 Bộ luật dân sự 2015;

[13] Khoản 3 Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ.