Quay Lại Law Hub
Hướng dẫn & Kiến thức

Tìm hiểu về cấp phép sử dụng Tác phẩm âm nhạc và Bản ghi âm

Legal Team7 phút đọc|

Một bài hát không chỉ có một "chủ sở hữu". Đằng sau mỗi lần sử dụng âm nhạc là ít nhất hai đối tượng quyền độc lập. Nếu bạn nhầm lẫn một trong số đó, rủi ro pháp lý có thể phát sinh ngay lập tức.

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ mang tính chất cung cấp thông tin chung và không thay thế cho lời khuyên pháp lý trong các tình huống cụ thể.

Tóm tắt

Trong ngành công nghiệp âm nhạc, việc sử dụng một bài hát không đơn thuần là "xin phép tác giả". Trên thực tế, mỗi bài hát thường tồn tại đồng thời hai đối tượng quyền độc lập: Tác phẩm âm nhạc (Composition) và Bản ghi âm (Sound Recording). Việc khai thác hợp pháp đòi hỏi phải xác định đúng quyền nào đang được sử dụng, chủ thể nào sở hữu quyền đó, và hình thức cấp phép tương ứng. Nhận diện sai một trong những yếu tố trên có thể dẫn đến vi phạm bản quyền, bồi thường thiệt hại hoặc tranh chấp thương mại. 

Phân biệt Tác phẩm âm nhạc và Bản ghi âm

Loại hìnhMô tảChủ thể quyềnLoại quyền
Tác phẩm âm nhạcLà phần sáng tạo gốc về mặt nội dung âm nhạc như giai điệu, hòa âm, ca từ.Tác giả; hoặc Chủ sở hữu quyền tác giả Quyền tác giả
Bản ghi âmLà bản định hình cụ thể của một Tác phẩm âm nhạc trên file nhạc hay CD. Người biểu diễn; hoặc Nhà sản xuất bản ghi âmQuyền liên quan

Xem thêm: "Ai sở hữu Bản Quyền Âm Nhạc?"

Ví dụ: Một bài hát được phát trên Spotify đồng thời chứa cả Tác phẩm âm nhạc và Bản ghi âm. 

Cấp phép sử dụng là gì?

Cấp phép sử dụng (licensing) là việc chủ sở hữu quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một phần hoặc toàn bộ tác phẩm trong phạm vi xác định, trên cơ sở thỏa thuận và có thể kèm theo nghĩa vụ trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc các lợi ích vật chất khác.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, việc cấp phép không làm chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả hay quyền liên quan. Chủ sở hữu vẫn giữ nguyên tư cách chủ thể quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác về việc chuyển nhượng quyền.

Đối với việc cấp phép sử dụng, chủ sở hữu quyền thường ký Hợp đồng sử dụng quyền tác giả/quyền liên quan với các bên có nhu cầu sử dụng Tác phẩm âm nhạc hay Bản ghi âm của mình [1]. Khác với chuyển nhượng quyền (là việc chuyển giao quyền sở hữu), Hợp đồng sử dụng quyền tác giả/quyền liên quan chỉ trao quyền khai thác trong phạm vi được các bên thỏa thuận.

Phạm vi cấp phép có thể được xác định theo các yếu tố sau:

  • Hình thức cấp phép: độc quyền hoặc không độc quyền;
  • Thời hạn sử dụng quyền;
  • Lãnh thổ khai thác;
  • Phương thức, hình thức và mục đích sử dụng;
  • Mức nhuận bút, thù lao, phương thức thanh toán và các điều kiện khác.

Việc sử dụng vượt quá phạm vi được cấp phép đã thoả thuận có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả/quyền liên quan theo quy định của pháp luật.

Lưu ý: Việc chuyển quyền sử dụng (cấp phép) quyền tác giả, quyền liên quan không bao gồm việc chuyển quyền sử dụng quyền nhân thân theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ [2]. Cụ thể: 

Tác giả KHÔNG ĐƯỢC chuyển quyền sử dụng đối với: 

  • Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Người biểu diễn KHÔNG ĐƯỢC chuyển quyền sử dụng đối với: 

  • Quyền được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;
  • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

Xem thêm: "Quyền nhân thân trong môi trường âm nhạc của Tác giả và Người biểu diễn"

Vai trò của Tổ chức quản lý tập thể quyền trong việc cấp phép âm nhạc

Trong thực tiễn, không phải lúc nào người sử dụng cũng phải trực tiếp liên hệ với từng tác giả, nhà sản xuất hoặc người biểu diễn để xin phép. Pháp luật Việt Nam cho phép việc quản lý và khai thác quyền được thực hiện thông qua các Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.

Việc một Tổ chức quản lý tập thể quyền cấp phép chỉ có hiệu lực trong phạm vi quyền mà tổ chức đó được ủy quyền quản lý. Không phải mọi tác phẩm âm nhạc hay bản ghi âm đều bắt buộc phải thông qua Tổ chức quản lý tập thể quyền. Trong nhiều trường hợp, chủ thể quyền vẫn có thể tự mình trực tiếp cấp phép hoặc uỷ quyền cho Đơn vị quản lý quyền khác.

Xem thêm: "Hệ sinh thái Cấp phép Âm nhạc tại Việt Nam"

Nhầm lẫn phổ biến trong cấp phép sử dụng âm nhạc

Trong thực tiễn khai thác và sử dụng âm nhạc, nhiều tranh chấp phát sinh không phải vì cố ý vi phạm, mà do hiểu sai cấu trúc quyền. 

Nhầm lẫn 1: Chỉ xin phép tác giả mà không xin phép chủ sở hữu bản ghi âm

Giải thích:

  • Nhiều cá nhân, doanh nghiệp cho rằng việc được tác giả đồng ý là đủ để sử dụng một bài hát.
  • Tuy nhiên, nếu sử dụng bản thu âm cụ thể (ví dụ: bản hit của một ca sĩ nổi tiếng), người sử dụng phải xin phép cả chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm (thường là nhà sản xuất hoặc hãng đĩa).
  • Việc chỉ xin phép tác phẩm âm nhạc mà không xin phép bản ghi âm có thể cấu thành hành vi xâm phạm quyền liên quan.

Nhầm lẫn 2: Mua nhạc trên nền tảng số đồng nghĩa với được sử dụng thương mại

Giải thích:

  • Việc mua hoặc đăng ký tài khoản nghe nhạc trên các nền tảng số chỉ cho phép sử dụng cho mục đích cá nhân, phi thương mại theo điều khoản dịch vụ của nền tảng.
  • Hành vi phát nhạc tại quán cà phê, nhà hàng, sự kiện, hoặc sử dụng trong quảng cáo mà không có giấy phép phù hợp có thể bị coi là sử dụng trái phép.

Nhầm lẫn 3: Người dùng cho rằng đã ký hợp đồng cấp phép sử dụng là được khai thác dưới mọi hình thức

Giải thích:

  • Hợp đồng sử dụng quyền chỉ có hiệu lực trong phạm vi đã thỏa thuận (về lãnh thổ, thời hạn, phương thức sử dụng…).
  • Việc khai thác vượt quá phạm vi này có thể bị xem là xâm phạm quyền, ngay cả khi giữa các bên đã tồn tại hợp đồng.

Như vậy, việc xác định chính xác đối tượng quyền đang được khai thác và phạm vi sử dụng được cấp phép là điều kiện bắt buộc để đảm bảo hoạt động sử dụng âm nhạc phù hợp với quy định pháp luật.

Trên thực tế, rủi ro pháp lý thường không phát sinh từ việc hoàn toàn không xin phép, mà chủ yếu xuất phát từ việc xin phép không đầy đủ, không đúng chủ thể quyền hoặc vượt quá phạm vi đã được thỏa thuận trong hợp đồng.


NỘI DUNG THAM KHẢO 

[1] Điều 48 Luật Sở hữu Trí tuệ; 

[2] Khoản 2 Điều 47 Luật Sở hữu Trí tuệ.

Bài Viết Liên Quan