Ai cấp phép sử dụng âm nhạc?
Trong thực tiễn khai thác âm nhạc, việc xin phép sử dụng một bài hát không phải lúc nào cũng chỉ cần liên hệ với một chủ thể duy nhất. Tùy vào cách thức sử dụng, quyền cấp phép có thể thuộc về nhiều chủ thể quyền khác nhau.
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ mang tính chất cung cấp thông tin chung và không thay thế cho lời khuyên pháp lý trong các tình huống cụ thể.
Tóm tắt
Theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền cho phép người khác sử dụng một bài hát thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan, tùy thuộc vào đối tượng quyền đang được khai thác.
Tùy từng trường hợp, việc cấp phép sử dụng âm nhạc có thể do trực tiếp chủ sở hữu quyền cấp phép hoặc do tổ chức quản lý tập thể quyền / đơn vị được uỷ quyền quản lý quyền cấp phép. Việc xác định đúng chủ thể có thẩm quyền cấp phép là điều kiện quan trọng để đảm bảo việc sử dụng âm nhạc tuân thủ quy định của pháp luật.
Cơ sở pháp lý của việc cấp phép sử dụng âm nhạc
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan có quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác khai thác, sử dụng có thời hạn một, một số, hoặc toàn bộ quyền tài sản thuộc phạm vi bảo hộ của mình [1].
Việc cho phép khai thác này thường được thực hiện thông qua:
(i) hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan [3]; hoặc (ii) cơ chế cấp phép thông qua tổ chức quản lý tập thể quyền [4].
Nói cách khác, về nguyên tắc, quyền cấp phép sử dụng bài hát (bao gồm tác phẩm âm nhạc và bản ghi âm của tác phẩm âm nhạc đó) thuộc về (các) chủ thể quyền. Tuy nhiên, quyền này có thể được ủy quyền hoặc chuyển giao cho tổ chức hoặc cá nhân khác để quản lý và khai thác theo thỏa thuận.
Các chủ thể có thể cấp phép sử dụng âm nhạc
1. Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả (Đối với tác phẩm âm nhạc)
Hình thức cho phép khai thác: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả
Đối với tác phẩm âm nhạc, quyền cấp phép sử dụng trước hết mặc định thuộc về tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Tùy từng trường hợp, chủ thể có quyền cấp phép có thể bao gồm:
- Tác giả và/hoặc đồng tác giả
- Chủ sở hữu quyền tác giả
Các chủ thể này có quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác khai thác các quyền tài sản và một số quyền nhân thân đối với tác phẩm âm nhạc, chẳng hạn như:
Đối với quyền tài sản:
- Làm tác phẩm phái sinh;
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
- Sao chép tác phẩm;
- Phân phối, nhập khẩu để phân phối tác phẩm;
- Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm;
Đối với quyền nhân thân:
- Đặt tên cho tác phẩm.
- Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
Xem thêm: "Quyền nhân thân trong môi trường âm nhạc của Tác giả và Người biểu diễn" & "Quyền Tài sản trong môi trường âm nhạc tại Việt Nam".
2. Người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm (Đối với bản ghi âm)
Hình thức cho phép khai thác: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền liên quan
Trong nhiều trường hợp, việc sử dụng âm nhạc không chỉ liên quan đến tác phẩm âm nhạc mà còn liên quan đến bản ghi âm cụ thể của tác phẩm đó. Khi đó, ngoài quyền tác giả, người sử dụng còn phải xem xét đến quyền liên quan.
Xem thêm: "Quyền tác giả và Quyền liên quan theo Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam"
Các chủ thể có thể cấp phép trong trường hợp này chính là chủ sở hữu quyền liên quan, bao gồm:
- người biểu diễn, đối với cuộc biểu diễn của mình;
- nhà sản xuất bản ghi âm, đối với bản ghi âm do mình khởi xướng, đầu tư và định hình.
Ví dụ: Khi bạn muốn sử dụng bản thu âm của một ca sĩ trong quảng cáo, phim hoặc chương trình truyền hình, người sử dụng thường phải xin phép cả chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc và chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm.
3. Đơn vị được ủy quyền quản lý quyền
Hình thức cho phép khai thác: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả/quyền liên quan
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc quyền liên quan có quyền ủy quyền cho tổ chức hoặc cá nhân khác thay mặt mình quản lý và khai thác các quyền tài sản và một số quyền nhân thân như đã phân tích thuộc phạm vi bảo hộ. Việc ủy quyền này thường được thực hiện thông qua hợp đồng, trong đó xác định rõ phạm vi quyền được quản lý, quyền hạn của bên được ủy quyền và cơ chế phân chia lợi ích từ việc khai thác tác phẩm.
Trên cơ sở ủy quyền hợp pháp, tổ chức hoặc cá nhân được ủy quyền có thể thay mặt chủ thể quyền thực hiện nhiều hoạt động liên quan đến việc khai thác thương mại tác phẩm hoặc bản ghi âm, bao gồm:
- cấp phép sử dụng tác phẩm hoặc bản ghi âm cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác;
- đàm phán, ký kết và quản lý hợp đồng sử dụng quyền với các đối tác khai thác;
- thu tiền bản quyền, nhuận bút hoặc thù lao phát sinh từ việc sử dụng tác phẩm;
- phân chia và thanh toán doanh thu cho chủ thể quyền theo thỏa thuận ủy quyền.
Trong ngành công nghiệp âm nhạc, các tổ chức hoặc cá nhân được ủy quyền quản lý quyền có thể bao gồm:
- Công ty xuất bản âm nhạc (music publisher) quản lý quyền khai thác đối với tác phẩm âm nhạc;
- Đơn vị quản lý danh mục tác phẩm (catalog management) đại diện khai thác một tập hợp tác phẩm hoặc bản ghi âm;
- Công ty quản lý quyền hoặc khai thác nội dung thay mặt tác giả hoặc nhà sản xuất thực hiện hoạt động cấp phép và thu tiền bản quyền;
- Đơn vị đại diện thương mại của tác giả, người biểu diễn hoặc nhà sản xuất bản ghi âm.
Lưu ý: Đơn vị được uỷ quyền quản lý quyền KHÔNG phải là tổ chức quản lý tập thể quyền theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Khác với mô hình quản lý tập thể – nơi một tổ chức đại diện cho số lượng lớn tác giả hoặc chủ sở hữu quyền – các đơn vị được ủy quyền quản lý quyền thường hoạt động trên cơ sở ủy quyền riêng lẻ theo hợp đồng, đại diện cho một hoặc một nhóm chủ thể quyền cụ thể.
Cơ chế ủy quyền này cho phép chủ sở hữu quyền chuyên môn hóa hoạt động quản lý và khai thác tài sản trí tuệ, đồng thời giúp việc cấp phép sử dụng âm nhạc trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn trong thực tiễn của ngành công nghiệp sáng tạo.
4. Tổ chức quản lý tập thể quyền
Hình thức cho phép khai thác: Cơ chế cấp phép thông qua tổ chức quản lý tập thể quyền
Trên thực tế, việc liên hệ trực tiếp với từng tác giả hoặc chủ thể quyền để xin phép sử dụng âm nhạc có thể gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi số lượng tác phẩm và chủ thể quyền rất lớn. Vì vậy, pháp luật cho phép thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền để đại diện cho các chủ thể quyền trong việc cấp phép và thu tiền bản quyền.
Các tổ chức này hoạt động trên cơ sở ủy quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan, với các chức năng chủ yếu như:
- cấp phép sử dụng tác phẩm;
- thu tiền bản quyền;
- phân phối tiền bản quyền cho các chủ thể quyền sau khi trừ đi chi phí quản lý hợp lý.
Tại Việt Nam, một số tổ chức quản lý tập thể quyền trong lĩnh vực âm nhạc có thể kể đến như:
- Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) - Đối với quyền tác giả;
- Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV) - Đối với quyền liên quan.
Việc cấp phép thông qua các tổ chức này giúp đơn giản hóa quá trình cấp phép đối với những trường hợp khai thác âm nhạc phổ biến như phát nhạc tại địa điểm kinh doanh, sự kiện hoặc chương trình biểu diễn.
Một số trường hợp cấp phép phổ biến
| Tình huống sử dụng | Chủ thể có thể cấp phép |
|---|---|
| Phát nhạc tại quán cà phê, nhà hàng, trung tâm thương mại | Chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan; hoặc Đơn vị được uỷ quyền quản lý quyền; hoặc Tổ chức quản lý tập thể quyền |
| Làm bản cover đối với một bài hát | Tác giả / Chủ sở hữu quyền tác giả; hoặc Đơn vị được uỷ quyền quản lý quyền tác giả; hoặc Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả |
| Sử dụng nhạc trong video quảng cáo, phim, hoặc nội dung trực tuyến | Chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan; hoặc Đơn vị được uỷ quyền quản lý quyền; hoặc Tổ chức quản lý tập thể quyền |
| Biểu diễn bài hát tại sự kiện, chương trình biểu diễn hoặc sân khấu | Tác giả / Chủ sở hữu quyền tác giả; hoặc Đơn vị được uỷ quyền quản lý quyền tác giả; hoặc Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả |
Kết luận
Trong hệ sinh thái khai thác âm nhạc, quyền cấp phép sử dụng tác phẩm không tập trung vào một chủ thể duy nhất. Tùy thuộc vào cách thức khai thác, thẩm quyền cấp phép có thể thuộc về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu bản ghi âm, hoặc tổ chức, cá nhân được ủy quyền quản lý quyền, bao gồm cả tổ chức quản lý tập thể quyền.
Vì vậy, trước khi sử dụng một bài hát, người sử dụng cần xem xét đầy đủ các yếu tố pháp lý liên quan, bao gồm: tình huống sử dụng âm nhạc, đối tượng quyền đang bị khai thác và chủ thể đang nắm giữ hoặc được ủy quyền quản lý quyền tại thời điểm sử dụng.
Xem thêm: "Các tình huống sử dụng Bản quyền Âm nhạc thường gặp tại Việt Nam"
Việc xác định đúng các yếu tố này không chỉ giúp hạn chế rủi ro pháp lý trong quá trình khai thác âm nhạc, mà còn góp phần xây dựng môi trường sử dụng tác phẩm minh bạch, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người sáng tạo.
NỘI DUNG THAM KHẢO
[1] Khoản 1 Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ;
[2] Khoản 2 Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ;
[3] Điều 48 Luật Sở hữu trí tuệ;
[4] Khoản 2 Điều 56 Luật Sở hữu trí tuệ.