Quyền tài sản trong môi trường âm nhạc tại Việt Nam
Âm nhạc không chỉ là nghệ thuật; nó còn là một ngành công nghiệp được vận hành bởi các cơ chế pháp lý về Quyền tài sản.
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ mang tính chất cung cấp thông tin chung và không thay thế cho lời khuyên pháp lý trong các tình huống cụ thể.
Tóm tắt
Theo quy định tại Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam, Quyền tài sản là các đặc quyền độc quyền cho phép chủ sở hữu khai thác tác phẩm để thu lợi ích vật chất. Không giống như Quyền nhân thân, các quyền này có thể được chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng cho người khác và có thời hạn bảo hộ nhất định (thường là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết).
Bản chất của Quyền Tài sản
Nếu Quyền nhân thân bảo vệ "linh hồn" của tác phẩm, thì Quyền tài sản bảo vệ "giá trị thương mại" của nó.
- Tính độc quyền: Chủ sở hữu Quyền tác giả có đặc quyền tự mình thực hiện hoặc cho phép (cấp phép) người khác thực hiện các quyền này. Không ai được phép khai thác thương mại tác phẩm nếu không trả tiền hoặc xin phép (trừ các trường hợp ngoại lệ hoặc giới hạn theo luật định).
- Tính chuyển nhượng được: Đây là một loại "tài sản" có thể giao dịch. Một nhạc sĩ có thể bán hoặc chuyển giao quyền sử dụng toàn bộ Quyền tài sản cho một nhà xuất bản âm nhạc để đổi lấy thù lao một lần duy nhất hoặc doanh thu được chia sẻ theo tỷ lệ trong một khoảng thời gian nhất định.
- Tính bảo hộ có thời hạn: Để cân bằng giữa lợi ích của Tác giả và lợi ích tiếp cận văn hóa của xã hội, Quyền tài sản có thời hạn [1]. Đối với Tác phẩm âm nhạc thông thường, thời hạn này kéo dài suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả qua đời. Sau thời hạn này, tác phẩm thuộc về công chúng.
Các chủ thể Quyền: Ai, sở hữu cái gì?
Xem thêm tại: "Ai sở hữu Bản Quyền Âm Nhạc?"
Việc xác định chính xác tư cách của các chủ thể liên quan đến một tác phẩm là yếu tố then chốt, quyết định đến phạm vi quyền và lợi ích mà mỗi bên được hưởng. Trong ngành công nghiệp âm nhạc, Quyền tài sản không tập trung ở một người mà được chia thành ba nhóm chủ thể độc lập:
- Nhóm 1: Tác giả / Chủ sở hữu Quyền tác giả đối với Tác phẩm âm nhạc
- Nhóm 2: Người biểu diễn / Chủ sở hữu đối với Cuộc biểu diễn
- Nhóm 3: Nhà sản xuất Bản ghi âm, ghi hình đối với Bản ghi âm, ghi hình
Quyền Tài sản của Tác giả/Chủ sở hữu Quyền Tác giả
Các Quyền tài sản có thể được tác giả, Chủ sở hữu Quyền tác giả tự mình/độc quyền thực hiện hoặc cho phép (cấp phép), chuyển nhượng cho người khác. Nhận diện các quyền này bao gồm [2]:
- Làm tác phẩm phái sinh:
Quyền độc quyền tạo ra các tác phẩm mới dựa trên tác phẩm gốc, như dịch lời bài hát, phối khí lại (remix), chuyển thể thành nhạc không lời, v.v.
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng:
Đây là quyền độc quyền trình diễn tác phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp (qua bản ghi) tại một địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận, nhưng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm. Quy định quyền này đối với Tác phẩm âm nhạc là quyền của Tác giả hoặc Chủ sở hữu Quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc biểu diễn làm cho công chúng tiếp cận, cảm nhận được tác phẩm bằng thính giác hoặc trình bày tác phẩm trên sân khấu cho công chúng nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm, bao gồm cả việc cảm nhận từ bên ngoài không gian nơi đang diễn ra việc biểu diễn qua màn hình, loa hoặc thiết bị kỹ thuật tương tự [3]. Bao gồm cả biểu diễn trực tiếp (live show) và biểu diễn gián tiếp qua các bản ghi âm, ghi hình (ví dụ: Một quán cà phê, nhà hàng hoặc trung tâm thương mại mở một đĩa CD hoặc một danh sách phát nhạc có sẵn làm nhạc nền cho khách hàng).
- Sao chép tác phẩm:
Quyền tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào, ví dụ như sản xuất đĩa CD, sao chép file nhạc kỹ thuật số.
- Phân phối, nhập khẩu để phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm:
Quyền đưa các bản sao của tác phẩm đến với công chúng thông qua việc bán, cho tặng hoặc các hình thức khác.
- Phát sóng, Truyền đạt tác phẩm đến công chúng:
Bằng các phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác. Đây là quyền cốt lõi trong thời đại số, bao trùm các hoạt động phát nhạc trên các nền tảng streaming, website, ứng dụng di động. Ví dụ: Khi Spotify lưu trữ bài hát trên máy chủ và cho phép bạn bấm "play" để nghe, trường hợp này đang thực hiện hành vi "truyền đạt đến công chúng".
Quyền Tài sản của Người biểu diễn
Dựa trên các Quyền Tài sản nêu trên, Người biểu diễn cũng sở hữu các Quyền tương ứng đối với Cuộc biểu diễn. Bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các hành vi [4]:
- Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
- Sao chép bản định hình cuộc biểu diễn;
- Phát sóng, truyền đạt đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình;
- Phân phối bản định hình cuộc biểu diễn;
- Cho thuê thương mại bản định hình;
- Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn.
Quyền Tài sản của Nhà sản xuất Bản ghi âm
Nhà sản xuất, với tư cách là người đầu tư tài chính và kỹ thuật, nắm giữ các Quyền tài sản đối với Bản ghi âm, ghi hình của mình. Các quyền này bao gồm [5]:
- Sao chép toàn bộ hoặc một phần Bản ghi âm, ghi hình;
- Phân phối, nhập khẩu để phân phối bản gốc, bản sao Bản ghi âm, ghi hình;
- Cho thuê thương mại bản gốc, bản sao Bản ghi âm, ghi hình;
- Phát sóng, truyền đạt đến công chúng Bản ghi âm, ghi hình của mình, bao gồm cả việc cung cấp theo yêu cầu qua các nền tảng streaming.
Bộ ba quyền trong Quyền tài sản dễ nhầm lẫn nhất trong Kỷ nguyên số
Khi đưa âm nhạc tiếp cận khán giả, pháp luật Việt Nam phân chia rất rạch ròi thành 3 quyền sau đây dựa trên phương thức truyền tải và mức độ tương tác của khán giả.
- Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng:
- Đặc điểm: Trình diễn trực tiếp hoặc gián tiếp (qua loa, màn hình) tại một địa điểm cụ thể. Khán giả không thể tự do lựa chọn thời gian hay từng phần tác phẩm để nghe.
- Ví dụ: Ca sĩ hát live trên sân khấu.
- Quyền phát sóng:
- Đặc điểm: Truyền tải bằng sóng vô tuyến, truyền hình hoặc vệ tinh. Công chúng tiếp nhận nội dung một cách thụ động theo lịch phát sóng của đài.
- Ví dụ: Bài hát được phát trên kênh truyền hình VTV.
- Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng:
- Đặc điểm: Truyền tải qua mạng thông tin điện tử (Internet). Đây là quyền cốt lõi của thời đại số, nơi công chúng có quyền tự do lựa chọn nội dung, thời gian và địa điểm để thưởng thức,,.
- Ví dụ: Nghe một bài hát trên Spotify, Apple Music.
Tóm lại, Quyền tài sản là cơ sở cốt lõi để thương mại hóa âm nhạc. Việc nhận diện đúng quyền nào đang được khai thác sẽ quyết định việc cấp phép và thu tiền hợp pháp.
NỘI DUNG THAM KHẢO
[1] Điều 7 Công ước Berne;
[2] Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ;
[3] Điều 15 Nghị định 17/2023/NĐ-CP;
[4] Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ;
[5] Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ.