Quay Lại Law Hub
Hướng dẫn & Kiến thức

Quyền tác giả và Quyền liên quan theo Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam

Legal Team8 phút đọc|

Dưới góc độ pháp lý, âm nhạc là một khối tài sản phức tạp bao gồm nhiều "lớp" quyền đan xen.

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ mang tính chất cung cấp thông tin chung và không thay thế cho lời khuyên pháp lý trong các tình huống cụ thể.

Tóm tắt

Các văn bản pháp luật về lĩnh vực Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam chia Bản quyền Âm nhạc thành hai nội dung chính: (1) Quyền tác giả dành cho Tác phẩm âm nhạc (giai điệu, lời) và (2) Quyền liên quan dành cho Bản ghi âm và Cuộc biểu diễn. Điểm khác biệt lớn nhất của pháp luật Việt Nam so với Hoa Kỳ là sự phân tách rạch ròi giữa Quyền nhân thân (quyền tinh thần của tác giả, không thể chuyển nhượng và bảo hộ vĩnh viễn) và Quyền tài sản (quyền khai thác thương mại, có thể mua bán).

Xem lại tổng quan nội dung về Quyền tác giả và Quyền liên quan tại: "Những phần nào của bài hát được bảo hộ bản quyền?"

Tại sao các khái niệm này tồn tại?

Hiểu rõ sự khác biệt giữa quyền tài sản, quyền nhân thân bất khả xâm phạm và các quyền liên quan, cũng như cơ chế giới hạn quyền (khi nào không cần xin phép nhưng phải trả tiền) sẽ giúp chúng ta có nền tảng kiến thức về Bản quyền Âm nhạc chặt chẽ hơn, bảo vệ tốt nhất lợi ích của bản thân và tránh các vụ kiện tụng vi phạm bản quyền không đáng có.

Nguyên tắc bảo hộ tự động và giá trị của việc đăng ký Bản quyền

Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam tuân thủ nguyên tắc nền tảng của Công ước Berne về việc bảo hộ tự động. Do đó, Quyền tác giả và Quyền liên quan phát sinh ngay kể từ khi tác phẩm/bản ghi âm được sáng tạo và "định hình" dưới một hình thức vật chất nhất định (ví dụ: viết ra bản nhạc giấy, thu âm file mp3), mà không bắt buộc phải đăng ký hay công bố. 

Mặc dù nguyên tắc bảo hộ là tự động, Luật Sở hữu trí tuệ vẫn thiết lập một cơ chế đăng ký Quyền tác giả và Quyền liên quan tự nguyện tại Cục Bản Quyền tác giả. Vai trò của việc đăng ký này không phải để khai sinh ra quyền, mà là để tạo ra một lợi thế pháp lý quan trọng trong quá trình thực thi và bảo vệ quyền trên thực tế. Điều này giúp tiết kiệm đáng kể thời gian, chi phí và nguồn lực cho chủ thể quyền trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ của mình. 

Xem thêm tại: "Hướng dẫn đăng ký bản quyền âm nhạc tại Việt Nam".

Vậy, việc nộp hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả/Quyền liên quan không phải là thủ tục bắt buộc nhưng có giá trị quan trọng trong việc củng cố chứng cứ pháp lý khi có tranh chấp xảy ra.

Quyền Tác giả

Quyền tác giả bảo hộ cho các sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học. Để được bảo hộ, tác phẩm phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. 

Trong lĩnh vực âm nhạc, đối tượng trọng tâm được bảo hộ quyền tác giả là Tác phẩm âm nhạc. Nó là sự sáng tạo về mặt cấu trúc âm thanh (giai điệu, hòa âm) và/hoặc lời bài hát, được thể hiện qua các ký tự âm nhạc. 

Trên cơ sở một tác phẩm âm nhạc đã có, người sáng tạo có thể thực hiện các hình thức sáng tạo tiếp theo, thường được pháp luật gọi chung là Tác phẩm phái sinh [1]. Đây là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có (ví dụ: tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn). Tác phẩm phái sinh của Tác phẩm âm nhạc chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc được sử dụng để tạo ra nó.

Các tác phẩm phái sinh này về bản chất vẫn là tác phẩm âm nhạc, nhưng được hình thành dựa trên nội dung của tác phẩm gốc và phải tuân thủ quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm ban đầu.  

Theo đó, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam chia quyền này thành 2 nhóm với tính chất pháp lý hoàn toàn khác biệt:

  1. Quyền Nhân thân: Đây là những quyền gắn liền với cá nhân tác giả, nhằm bảo vệ giá trị tinh thần, danh dự và uy tín của người sáng tạo và được bảo hộ vô thời hạn. Về nguyên tắc, các quyền này không thể chuyển giao quyền sử dụng hay chuyển nhượng cho người khác, trừ quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.

    Xem chi tiết tại: "Quyền nhân thân trong môi trường âm nhạc của Tác giả và Người biểu diễn."

  2. Quyền tài sản: Đây là các quyền độc quyền khai thác tác phẩm nhằm thu lợi ích vật chất. Không giống như Quyền nhân thân, các quyền này có thể được chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng cho người khác và có thời hạn bảo hộ nhất định (thường là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết, xem thêm tại: "Thời hạn bảo hộ bản quyền - Một bài hát được bảo hộ trong bao lâu?")

    Xem chi tiết tại: "Quyền Tài sản trong môi trường âm nhạc tại Việt Nam"

Quyền liên quan đến Quyền tác giả

Đây là quyền của các tổ chức, cá nhân có công sức, kỹ thuật, và đầu tư tài chính để phổ biến, trình diễn, và đưa tác phẩm đến với công chúng. Quyền liên quan không bảo hộ cho sự sáng tạo gốc (phần nhạc và lời) mà bảo hộ cho các kết quả của hoạt động đầu tư đó. Căn cứ phát sinh Quyền liên quan được xác định từ khi đối tượng được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến Quyền tác giả [2]. Điều này có nghĩa là quyền của Người biểu diễn phát sinh ngay tại thời điểm họ trình diễn Cuộc biểu diễn, và quyền của Nhà sản xuất phát sinh ngay tại thời điểm Bản ghi âm được tạo ra.

Các đối tượng Quyền liên quan trong ngành công nghiệp âm nhạc được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: 

  • Cuộc biểu diễn
  • Bản ghi âm, ghi hình

Ví dụ một số hành vi Quyền liên quan gây phương hại đến Quyền tác giả:

  • Hành vi sử dụng một đoạn nhạc nhưng cắt ghép sao cho thay đổi hoàn toàn ý nghĩa biểu đạt ban đầu của tác giả, hoặc sử dụng nhạc nền cho các video bạo lực, không phù hợp. 
  • Hành vi tải một bài hát từ trang web lậu (không được cấp phép) về máy tính cá nhân hoặc điện thoại là hành vi tạo ra một "bản sao" trái phép. 

Quyền liên quan đến Quyền tác giả có vai trò bảo hộ quyền của các chủ thể trung gian có vai trò quan trọng trong việc đưa Tác phẩm Âm nhạc đến với công chúng. Cụ thể:

  1. Quyền của Người biểu diễn [3]:

Người biểu diễn được hưởng cả Quyền nhân thân và Quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn của mình. 

Xem chi tiết tại: "Quyền nhân thân trong môi trường âm nhạc của Tác giả và Người biểu diễn." & "Quyền Tài sản trong môi trường âm nhạc tại Việt Nam"

  1. Quyền của Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình [4]:

Nhà sản xuất, với tư cách là người đầu tư tài chính và kỹ thuật, nắm giữ các Quyền tài sản đối với Bản ghi âm, ghi hình của mình.

Xem chi tiết tại: "Quyền Tài sản trong môi trường âm nhạc tại Việt Nam".

Có thể thấy rằng, điểm khác biệt ở pháp luật Việt Nam chính là nhìn nhận một Tác phẩm Âm nhạc không chỉ là một món hàng hóa để khai thác kinh doanh, mà còn là một phần mở rộng vĩnh viễn của nhân phẩm, danh dự và "linh hồn sáng tạo" của tác giả.

Bằng việc tách bạch rõ ràng và bảo vệ nghiêm ngặt các quyền nhân thân (đặc biệt là quyền đứng tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm) một cách vô thời hạn, đồng thời cấm chuyển nhượng các quyền này, pháp luật đã thiết lập một ranh giới nhằm ngăn chặn các thỏa thuận thương mại xâm phạm đến danh dự của người sáng tạo.

Ngay cả trong các quan hệ làm thuê (giao nhiệm vụ) hay đặt hàng, tổ chức/công ty đầu tư chỉ có thể mặc định nắm giữ các Quyền tài sản để thu lợi, chứ không bao giờ có thể tự nhận mình là "tác giả" để "xóa sổ" tư cách sáng tạo của tác giả ban đầu.


NỘI DUNG THAM KHẢO

[1] Quy định tại Khoản 8 Điều 4, Khoản 2 Điều 14 Luật SHTT và Điều 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP;

[2] Quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật SHTT;

[3] Quy định tại Điều 29 Luật SHTT;

[4] Quy định tại Điều 30 Luật SHTT.

Bài Viết Liên Quan