Quyền sở hữu Bản quyền và tư cách Tác giả trong âm nhạc
Làm rõ sự khác biệt giữa quyền sở hữu Bản quyền và tư cách Tác giả trong bảo hộ Bản quyền Âm nhạc.
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ mang tính chất cung cấp thông tin chung và không thay thế cho lời khuyên pháp lý trong các tình huống cụ thể.
Tóm tắt
Trong ngành công nghiệp âm nhạc, người tạo ra tác phẩm (Tác giả) không phải lúc nào cũng là người sở hữu các quyền khai thác kinh tế đối với tác phẩm đó (Chủ sở hữu Quyền tác giả/Quyền liên quan). Nhiều tranh chấp phát sinh do người sáng tạo cho rằng việc viết hoặc biểu diễn một bài hát đồng nghĩa với việc sở hữu bản quyền.
Trên thực tế, quyền sở hữu có thể được chuyển giao hoặc xác lập theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận hợp đồng, chẳng hạn, Quyền tác giả có thể được tách rời khỏi tác giả thông qua quan hệ lao động hoặc hợp đồng chuyển nhượng.
Việc nhầm lẫn giữa "công sức sáng tạo" và "quyền sở hữu pháp lý" là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến các tranh chấp về doanh thu và quyền kiểm soát tác phẩm. Hiểu rõ sự khác biệt này là yếu tố quan trọng để tránh mất quyền kiểm soát đối với quyền lợi, doanh thu và việc khai thác tác phẩm trong tương lai.
Xem thêm tại: "Ai sở hữu Bản Quyền Âm Nhạc?"
Tác giả trong âm nhạc là gì?
Tác giả là cá nhân trực tiếp sáng tạo ra Tác phẩm âm nhạc.
Trong âm nhạc, Tác giả có thể bao gồm:
- Nhạc sĩ sáng tác giai điệu,
- Người viết lời,
- Trong một số trường hợp, các đồng Tác giả cùng đóng góp yếu tố sáng tạo cho tác phẩm.
Tư cách Tác giả gắn liền với đóng góp sáng tạo, không phụ thuộc vào việc được trả tiền hay đầu tư tài chính.
Tác giả có các Quyền nhân thân đối với Tác phẩm âm nhạc [1], bao gồm:
- Đặt tên cho tác phẩm âm nhạc;
- Được đứng tên thật hoặc bút danh trên Tác phẩm âm nhạc; được nêu tên thật hoặc bút danh khi Tác phẩm âm nhạc được công bố, sử dụng;
- Công bố Tác phẩm âm nhạc hoặc cho phép người khác công bố Tác phẩm âm nhạc;
- Bảo vệ sự toàn vẹn của Tác phẩm âm nhạc không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm âm nhạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của Tác giả.
Các quyền này thông thường vẫn thuộc về Tác giả ngay cả khi Quyền tài sản đã được chuyển giao. Đối với quyền công bố Tác phẩm âm nhạc, Tác giả thường chuyển giao cùng với Quyền tài sản cho Chủ sở hữu Quyền tác giả.
Lưu ý: Quyền nhân thân bảo vệ danh tiếng, không mang lại giá trị vật chất trực tiếp nhưng là nền tảng để xác lập các quyền khác.
Chủ sở hữu Quyền tác giả là gì?
Chủ sở hữu Quyền tác giả là bên nắm giữ Quyền tài sản (có thể là cá nhân hoặc tổ chức) để khai thác tác phẩm về mặt thương mại.
Chủ sở hữu thường có các Quyền tài sản đối với Tác phẩm âm nhạc [2], bao gồm:
- Làm tác phẩm phái sinh;
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;
- Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào;
- Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình;
- Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn;
Chủ sở hữu Quyền tác giả quyết định cách thức tác phẩm được sử dụng về mặt thương mại và là bên nhận doanh thu phát sinh từ việc khai thác các quyền này.
Quan trọng là, Chủ sở hữu không phải lúc nào cũng là Tác giả.
Vì sao Tác giả và chủ sở hữu thường không trùng nhau?
Trong ngành công nghiệp âm nhạc, hoạt động sáng tạo và hoạt động đầu tư thường tách biệt.
Một nhạc sĩ có thể sáng tác bài hát, nhưng quyền sở hữu có thể thuộc về:
-
Nhà xuất bản âm nhạc → thông qua Hợp đồng xuất bản âm nhạc;
-
Công ty sản xuất → thông qua Hợp đồng xuất bản âm nhạc;
-
Người sử dụng lao động → thông qua Quan hệ lao động;
-
Hoặc bên đặt hàng sáng tạo → thông qua Hợp đồng đặt hàng tác phẩm âm nhạc.
Pháp luật sở hữu trí tuệ thừa nhận rằng dù yếu tố sáng tạo đến từ cá nhân, quyền khai thác thương mại có thể thuộc về chủ thể khác tùy theo cơ chế pháp lý và thỏa thuận giữa các bên.
Ví dụ phổ biến trong ngành âm nhạc
Ví dụ 1 — Nhạc sĩ là người lao động
Một nhạc sĩ làm việc toàn thời gian cho công ty truyền thông và sáng tác nhạc nền theo nhiệm vụ được giao.
- Nhạc sĩ là tác giả.
- Công ty có thể là chủ sở hữu quyền tài sản, trừ khi có thỏa thuận khác.
Nhạc sĩ tạo ra tác phẩm, nhưng công ty kiểm soát việc khai thác thương mại.
Ví dụ 2 — Bài hát sáng tác theo đặt hàng
Một thương hiệu thuê nhạc sĩ độc lập sáng tác bài hát cho chiến dịch quảng cáo theo hợp đồng bằng văn bản.
- Nhạc sĩ là tác giả.
- Thương hiệu hoặc công ty sản xuất có thể trở thành chủ sở hữu quyền tài sản nếu hợp đồng quy định việc chuyển giao quyền.
Trong trường hợp này, sáng tạo và quyền sở hữu được tách biệt.
Ví dụ 3 — Thỏa thuận giữa nghệ sĩ và nhà sản xuất
Một nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn bài hát nhưng ký hợp đồng xuất bản hoặc sản xuất chuyển giao một phần quyền khai thác.
- Nghệ sĩ vẫn là tác giả.
- Hãng đĩa hoặc nhà sản xuất có thể sở hữu hoặc kiểm soát một số quyền khai thác nhất định.
Lưu ý thực tiễn cho người sáng tạo và doanh nghiệp
Trước khi phát hành hoặc sử dụng âm nhạc, cần làm rõ:
- Ai là tác giả?
- Ai sở hữu quyền tài sản?
- Quyền đã được chuyển giao hay chỉ cấp phép sử dụng?
- Những quyền nào vẫn thuộc về người sáng tạo?
Các thỏa thuận rõ ràng giúp phòng tránh tranh chấp và đảm bảo mỗi bên hiểu đúng vai trò của mình trong chuỗi giá trị của việc sáng tạo và khai thác âm nhạc.
NỘI DUNG THAM KHẢO
[1] Điều 19 Luật Sở hữu Trí tuệ;
[2] Điều 20 Luật Sở hữu Trí tuệ.