Quay Lại Law Hub
Hướng dẫn & Kiến thức

Nguyên tắc “Sử dụng hợp lý” trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

Legal Team11 phút đọc|

Bài viết này giúp độc giả hiểu khái niệm vốn xuất phát từ phương Tây ("Fair Use" ở Hoa Kỳ hay "Fair Dealing" ở Khối Thịnh Vượng Chung) dưới lăng kính và quy định thực tế của pháp luật Việt Nam.

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ mang tính chất cung cấp thông tin chung và không thay thế cho lời khuyên pháp lý trong các tình huống cụ thể.

Tóm tắt

Khác với học thuyết "Fair Use" vô cùng linh hoạt và mở rộng của Mỹ, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không có khái niệm cụ thể cho cụm từ "Sử dụng hợp lý". Thay vào đó, Luật Sở hữu Trí tuệ ("Luật SHTT") quy định các trường hợp cụ thể được xem là ngoại lệ hoặc giới hạn Quyền tác giả. Để việc sử dụng hợp lý âm nhạc của người khác không bị coi là vi phạm bản quyền, hành vi của bạn bắt buộc phải rơi vào một trong các mục đích luật định. Các trường hợp này được chia thành hai nhóm chính: Ngoại lệ (sử dụng không phải xin phép và không phải trả tiền bản quyền) và Giới hạn (sử dụng không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền).

"Sử dụng hợp lý" tại Việt Nam thực chất là gì?

Trong khi giới sáng tạo (creators) thường dùng từ "Fair Use" theo thói quen từ các nền tảng như YouTube (dựa trên quy định pháp luật Hoa Kỳ, xem thêm tại: "Fair Use vs Fair Dealing in Music context"), thì theo thuật ngữ chính xác của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, cơ chế này được chia thành hai nhóm riêng biệt:

  • Ngoại lệ không xâm phạm bản quyền [1]: Cho phép bạn sử dụng tác phẩm mà KHÔNG cần xin phép và KHÔNG phải trả tiền. Mục đích thường giới hạn ở nghiên cứu cá nhân, giảng dạy, trích dẫn hợp lý để bình luận/đưa tin thời sự, hoặc biểu diễn phi thương mại.
  • Giới hạn quyền [2]: Cho phép bạn sử dụng tác phẩm KHÔNG cần xin phép, NHƯNG PHẢI TRẢ TIỀN. Trường hợp điển hình nhất là các quán cà phê, nhà hàng, siêu thị mở nhạc nền, hoặc đài phát thanh/truyền hình sử dụng nhạc để phát sóng thương mại.

Tại sao cơ chế này lại tồn tại? 

Mục đích cốt lõi của luật bản quyền là trao cho tác giả quyền độc quyền khai thác tác phẩm nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế và tạo động lực cho hoạt động sáng tạo. Tuy nhiên, nếu quyền độc quyền này được thực thi một cách tuyệt đối, đời sống xã hội có thể rơi vào tình trạng trì trệ: các nhà phê bình không thể trích dẫn tác phẩm để bình luận, giáo viên thiếu nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy, và thông tin thời sự khó được truyền tải một cách đầy đủ, trung thực.

Chính vì vậy, các quy định về "ngoại lệ và giới hạn quyền" được thiết kế như một cơ chế cân bằng, đóng vai trò như một "van an toàn" pháp lý, nhằm dung hòa giữa lợi ích kinh tế chính đáng của tác giả và quyền tiếp cận thông tin, giáo dục cũng như phát triển văn hóa của công chúng.

Nếu ở Hoa Kỳ, Tòa án sẽ cân nhắc 4 yếu tố (mục đích, bản chất tác phẩm, số lượng sử dụng, ảnh hưởng thị trường) để linh hoạt quyết định một hành vi có phải là "Fair Use" hay không, thì ở Việt Nam, luật pháp mang tính "đóng" và cứng rắn hơn rất nhiều (tương đồng với hệ thống Fair Dealing của Anh/Úc). 

Theo đó,  để sử dụng âm nhạc mà không cần xin phép (miễn phí hoặc trả phí), bạn phải thuộc trong các trường hợp sau:

  1. Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm Quyền tác giả, Quyền liên quan 

Đây là các trường hợp sử dụng không xin phép, không trả tiền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. Luật SHTT Việt Nam liệt kê sẵn các trường hợp cụ thể. Nếu hành vi của bạn nằm ngoài danh sách này, bạn mặc nhiên vi phạm các ngoại lệ đã nêu. Nguyên tắc chung cho các ngoại lệ này [3]: việc sử dụng không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

  • Ngoại lệ đối với Quyền tác giả: Đây là các trường hợp sử dụng được coi là hợp lý, nhằm phục vụ các mục đích công cộng, nghiên cứu, giảng dạy, hoặc cá nhân phi thương mại. Bao gồm [4]: 
    • (i) Tự sao chép một bản để sử dụng cá nhân (không áp dụng sao chép bằng thiết bị sao chép);  

    • (ii) Trường hợp sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại; 

    • (iii) Sử dụng hợp lý trong giảng dạy, nhằm mục đích giảng dạy; 

    • (iv) Trích dẫn hợp lý để bình luận, giới thiệu hoặc minh hoạ tác phẩm khác; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát sóng, phim tài liệu; 

    • (v) Biểu diễn phi thương mại; 

    • (vi) Các trường hợp khác như: Sử dụng trong hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước; Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc... trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó, không nhằm mục đích thương mại; Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng cá nhân,...; Ngoại lệ dành cho người khuyết tật.  

  • Ngoại lệ đối với Quyền liên quan: Tương tự Quyền tác giả, pháp luật cũng quy định các ngoại lệ cho Quyền liên quan. Luật sở hữu trí tuệ quy định các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng. Bao gồm [5]:
    • (i) Ghi âm, ghi hình trực tiếp một phần cuộc biểu diễn; 
    • (ii) Tự sao chép hoặc hỗ trợ người khuyết tật sao chép một phần cho mục đích cá nhân; 
    • (iii) Sao chép hợp lý một phần để giảng dạy của cá nhân; 
    • (iv) Trích dẫn hợp lý để đưa tin thời sự; 
    • (v) Bản sao tạm thời của Tổ chức phát sóng; 
  1. Các trường hợp giới hạn Quyền tác giả và Quyền liên quan

Đây là các trường hợp sử dụng không xin phép, nhưng phải trả tiền, phải thông tin về tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm và thông tin về bản ghi âm, ghi hình. Tức là, các trường hợp sử dụng được nêu dưới đây không cần xin phép trước nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quy định của Chính phủ.

Theo đó, việc sử dụng chỉ được chấp nhận nếu đáp ứng đồng thời ba điều kiện: (1) không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm; (2) không gây phương hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu Quyền tác giả; và (3) phải ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm.

Bao gồm cụ thể [5]: 

(i) Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm/bản ghi âm, ghi hình để phát sóng: Khi một đài phát thanh, truyền hình,... (tổ chức phát sóng) sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố để phát sóng, họ không cần xin phép nhưng có nghĩa vụ trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm. Cơ chế trả tiền được xác định dựa trên tính chất thương mại của chương trình phát sóng:

  • Đối với chương trình có tài trợ, quảng cáo hoặc có thu tiền: Các bên tự thỏa thuận về mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng. Trong trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận, mức tiền và phương thức thanh toán sẽ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
  • Đối với chương trình không có tài trợ, quảng cáo và không thu tiền: Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán sẽ được thực hiện trực tiếp theo quy định của Chính phủ.

(ii) Sử dụng trong hoạt động kinh doanh, thương mại: Khi tổ chức, cá nhân sử dụng âm nhạc (tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố) nhằm mục đích thương mại trong các hoạt động kinh doanh (ví dụ: mở nhạc nền phục vụ khách tại nhà hàng, quán cà phê, siêu thị, khách sạn, cửa hàng…, không phải phát sóng qua hệ thống truyền hình), họ có nghĩa vụ:

  • Phải trả tiền bản quyền cho tất cả các nhóm chủ thể quyền, bao gồm: Chủ sở hữu quyền tác giả (nhạc sĩ/nhà xuất bản), Người biểu diễn (ca sĩ, nhạc công), và Nhà sản xuất bản ghi âm (hãng đĩa)
  • Mức tiền và phương thức thanh toán được thực hiện theo thỏa thuận của các bên kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng

Những lầm tưởng phổ biến

Khi quy định của pháp luật Việt Nam được áp dụng trong môi trường số như YouTube, TikTok và các nền tảng chia sẻ nội dung xuyên biên giới, nhiều nhà sáng tạo nội dung thường phát sinh nhầm lẫn trong việc xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình:

Nhầm lẫnThực tế 
Chỉ ghi chú dòng chữ: Không có ý định vi phạm bản quyền ở mô tả nội dung hay tiêu đề video. Ý định không làm thay đổi hành vi vi phạm. Việc ghi tên tác giả gốc chỉ đáp ứng việc bạn tôn trọng quyền nhân thân, không thay thế cho việc xin phép để sử dụng quyền tài sản, trừ khi bạn thuộc các trường hợp không cần xin phép, không phải trả tiền bản quyền. 
Tin rằng nếu YouTube không quét xác nhận quyền sở hữu (claim) thì việc sử dụng nội dung có bản quyền trong video của mình là hoàn toàn hợp pháp.Hệ thống Content ID vận hành dựa trên cơ chế so khớp dữ liệu và chính sách do chủ sở hữu quyền thiết lập. Hệ thống này không có thẩm quyền đánh giá ngoại lệ pháp luật hay "sử dụng hợp lý". Do đó, các video sử dụng nội dung một cách hợp pháp (như trích dẫn để bình luận) vẫn có thể bị hệ thống tự động thông báo xác nhận quyền sở hữu qua Content ID.
Phát nhạc trực tiếp tại quán cà phê, nhà hàng là "Sử dụng hợp lý". Đây là hành vi có thể xem là vi phạm bản quyền khi người sử dụng không thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền theo quy định. Việc lấy một bài hát có bản quyền để phát nhạc tại địa điểm kinh doanh bạn có thể không cần phải xin phép trước nhưng bắt buộc phải trả mức tiền bản quyền theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng.

"Sử dụng hợp lý" (hay Ngoại lệ và Giới hạn quyền) trong hệ thống pháp luật Việt Nam là những quy định có điều kiện và mang tính kỹ thuật rất cao. Việc nắm vững kiến thức nền tảng về Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam sẽ trao cho bạn sự tự tin để bảo vệ tiếng nói sáng tạo của mình và sử dụng âm nhạc một cách hợp pháp, hợp lý, tôn trọng giá trị sáng tạo nghệ thuật.


NỘI DUNG THAM KHẢO

[1] Điều 25 & Điều 32 Luật Sở hữu trí tuệ;

[2] Điều 26 & Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ;

[3] Khoản 2 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ;

[4] Điều 25, Điều 25a Luật Sở hữu trí tuệ; Điều 25 đến Điều 30 Nghị định 17/2023/NĐ-CP;

[5] Điểm a Khoản 1 Điều 32 Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 31 Nghị định 17/2023/NĐ-CP;

[6] Khoản 1 Điều 26 và Khoản 1 Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ.

Bài Viết Liên Quan